Đối thoại cởi mở trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ tư - 17/08/2016 23:54
.THANH NGUYÊN

Bác Hồ là nhà biện chứng khi nhắc nhở những người làm công tác huấn luyện, cũng là nhắc nhở mọi người nói chung, ai mà “tự cho là mình biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất” (1). Qua đối thoại những cái nhìn ấy sẽ làm giàu, bổ sung cho nhau bằng cái mới, cái khác, cái lạ. Cho nên đối thoại chấp nhận sự đa ý kiến, nhiều chiều với những tranh luận, phản biện. Đối thoại giúp con người nói ra ý mình để người khác nghe, cật vấn, phản bác, và ngược lại. Nhờ đó mỗi người được mài sắc thêm cái tôi, giàu có thêm tri thức, năng động nhạy bén trong phương pháp. Đấy là cơ sở cho sự cộng cảm, thấu cảm lẫn nhau để thân ái, hòa bình, hợp tác, hữu nghị…
 
hct

Đối thoại là hạt nhân của giao tiếp mà không có giao tiếp không thể làm nên xã hội. Tinh thần dân chủ của đối thoại thể hiện rõ ở chỗ nâng vị thế của người tiếp nhận từ bị động thành chủ động. Chỉ nghe và làm theo là bị động, như kiểu học trò “tập trung chăm chú nghe giảng” từ thầy được coi là trò ngoan; nghe đúng, làm theo đúng được coi là trò giỏi. Trò “giỏi” nhưng ít sáng tạo vì cái giỏi ấy phần lớn của thầy, chưa phải đích thực của trò. Đấy chưa phải là đối thoại. Đối thoại là tiếp thu với sự phản biện, chọn lọc, đưa ra ý mới… Nhờ đối thoại mà hiểu biết nhân lên hiểu biết, sáng tạo nhân lên sáng tạo, con người được là chính mình, làm chủ mình rồi làm mới mình. Đối thoại làm nên bản chất cuộc sống.

Chúng ta vẫn quen phân tích rồi khái quát truyện Chí Phèo của Nam Cao là “bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người”. Trong khi đó sống trong xã hội cũ thì những người dân nghèo đều chịu chung bi kịch ấy mà bằng chứng là ai cũng bị đánh thuế thân, thứ thuế đánh vào người đang sống, ai sống thì phải nộp thuế. Những anh Dậu, anh Pha, Chí Phèo… đều bị thế cả, tức đều “bị cự tuyệt quyền làm người”. Nên khái quát như thế còn là chung chung, chưa nói được sâu sắc giá trị riêng, cơ bản của tác phẩm. Mở đầu thiên truyện là hình ảnh Chí vừa đi vừa chửi, Chí chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha mẹ đứa nào đã đẻ ra nó…Tức là Chí khát khao một sự giao tiếp. Nhưng chẳng có ai thèm đối thoại, vì tất cả đã coi Chí ở hàng thú vật. Thành ra chỉ có mấy con chó “chửi” nhau với Chí.

Nam Cao đã đi trước thời đại mà gián tiếp nêu ra: bản chất con người là đối thoại; chỉ con người mới có thể đối thoại được với nhau; điều kiện đối thoại là hiểu biết, bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe…Cả làng Vũ Đại không hiểu cái khát khao ở Chí Phèo muốn đối thoại bình đẳng để “làm hòa với mọi người”, không hiểu cái mầm lương thiện đang ấp ủ trong một hình hài thú vật…Cho nên bi kịch xót xa của Chí là bi kịch bị cự tuyệt quyền đối thoại, mà như thế có nghĩa là chết còn hơn sống, tức là người bất hạnh nhất…Chúng ta nhớ một truyện ngắn của M.Gorky kể về sự trừng phạt khủng khiếp nhất của bộ lạc nọ đối với kẻ có tội là đuổi vào rừng để kẻ đó phải chết trong cô độc!

Để có đối thoại, các bên tham gia đều phải có vốn tri thức sâu rộng về giao tiếp văn hóa, về lĩnh vực cùng quan tâm. Bác Hồ là một trong số rất ít các vĩ nhân của thế giới đương đại có thể đối thoại với hầu hết các nền văn hóa lớn. Có ba nguồn văn hóa cơ bản để tạo nên Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh, một là học tập, kế thừa tinh thần yêu nước thương người trong văn hóa Việt; hai là sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, nhất là tư tưởng đạo Nho và giáo lý nhà Phật; ba là nhờ được đi tới hầu khắp các nền văn hóa phương Tây, học tập và thu lượm những điều tiến bộ ở nhiều tôn giáo, ở rất nhiều chủ nghĩa, khuynh hướng, đặc biệt ở chủ nghĩa Mác...

Có thể ví Hồ Chí Minh như cây đại thụ văn hóa cường tráng nhờ ba chùm rễ khỏe khoắn cắm sâu vào mảnh đất văn hóa nhân loại để cành lá vươn cao lên bầu trời nhân dân khắp thế giới mà quang hợp ánh sáng của tự do, bình đẳng, bác ái, của trí tuệ, tình thương... Vì lẽ ấy mà ở Hồ Chí Minh đã tạo cho riêng mình một chủ nghĩa nhân văn vừa phương Đông lại rất phương Tây, cổ điển, truyền thống mà mới mẻ, hiện đại; bình dân giản dị mà bác học trí thức; trong sáng hồn nhiên mà sang trọng vương giả...

Những điều ấy thể hiện rất rõ ở từng câu chữ. Mà “ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác) nên tìm hiểu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trước nhất phải đi từ ngôn ngữ. Thành thạo 12 ngôn ngữ chính trên thế giới nên Người đã nắm rất chắc và làm chủ các chìa khóa giải mã các nền văn hóa lớn. Phải như vậy thì trong Lời than vãn của Bà Trưng Trắc tác giả mới thật sự hiểu sâu từng “quẻ” trong Kinh Dịch để có thể mỉa mai cực kỳ thâm thúy hình tượng Khải Định, cho rằng “mệnh” Khải Định tương ứng với quẻ Dương Cửu lên ở mức cao nhất (là vua) rồi sẽ tuột xuống thân phận thảm hại đớn hèn nhất (là nô lệ, tay sai).

Đối với nước Pháp xâm lược Người luôn cố gắng tìm một cơ hội hoà bình. Sang thăm nước Pháp, đáp từ trong buổi tiệc G.Biđôn, Chủ tịch Chính phủ Pháp chiêu đãi ngày 2-7-1946, Bác Hồ nhắc đến đạo Nho (Bác gọi là đạo Khổng): “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp” (2).

“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” là câu nói nổi tiếng của Khổng Tử, trở thành một ứng xử văn hóa phương Đông: Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Đây chính là mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau, giữa người với người, quốc gia này với quốc gia khác. Do vậy nó mang tầm phổ quát  toàn nhân loại không riêng gì của phương Đông. Hồ Chí Minh đã nhắc khéo nước Pháp: đã từng đau khổ vì bị Đức xâm lược thì chắc nước Pháp rất hiểu nỗi khổ đau mất nước của quốc gia khác. Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Chả lẽ nước Pháp lại đi xâm lược Việt Nam?

Nhìn từ lý thuyết đối thoại ta cũng thấy Bác Hồ là người rất hạnh phúc!

Trong đối thoại thì tất cả đều bình đẳng, ai cũng có quyền nói, không ai hơn ai, không ai là kẻ lớn, kia là phận nhỏ, cũng không ai có quyền ép người này phải thế này, phải thế kia… Đối thoại văn hóa tối kỵ những câu mệnh lệnh thức hay cầu khiến…Trước một vấn đề các bên đều có chính kiến, phản biện, bảo vệ… Là người hiểu sâu sắc vấn đề này nên Bác từng nói dân chủ là phải để cho dân được “mở miệng”. Không ngẫu nhiên dễ thấy (cả trong trước tác và đời thường) một nguyên tắc đối thoại của Người với dân là luôn đưa ra những câu hỏi để được nghe trả lời. Hỏi để được biết tình hình, là đưa ra vấn đề rồi khơi gợi cho dân nói, hỏi để tôn trọng dân, hiểu dân...

Tháng 9-1958 về thăm tỉnh miền núi Yên Bái, Người nói: “Tỉnh nhà có 10 dân tộc anh em. Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích oán ghét dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay. Nếu xoè 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu kẻ nào chia rẽ thì phải làm thế nào?...” (3). Có rất nhiều ví dụ tương tự nhưng ví dụ mà ai cũng biết là khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, một vị Chủ tịch Nước hỏi dân: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?” thì chính là một biểu hiện của tinh thần dân chủ, không còn khoảng cách giữa vị Chủ tịch và dân thường.

Đối thoại để gần nhau, hiểu và trách nhiệm với nhau hơn nên không thể thiếu sự chân thành. Chỉ có sự chân thành làm sứ giả thì trái tim mới đến được trái tim, mới kết nối được những tâm hồn. Chỉ có chân thành mới làm người ta thấu hiểu nhau để thấu cảm về nhau. Đây là lời Bác Hồ nói với những người mẹ Pháp có con nghe lời bọn thực dân đi xâm lược Việt Nam mà nguy hiểm đến mạng sống: “Các bà yêu đất nước mình, các bà mong muốn nước mình được độc lập và thống nhất. Nếu có kẻ nào tìm cách xâm phạm nền độc lập và sự thống nhất ấy, thì tôi tin chắc rằng các bà sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ nó. Chúng tôi cũng thế, chúng tôi yêu Tổ quốc Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi cũng muốn Tổ quốc chúng tôi độc lập và thống nhất. Liệu các bà có kết tội chúng tôi vì chúng tôi đã đấu tranh chống những kẻ tìm cách chinh phục và chia cắt Tổ quốc chúng tôi không?” (4).

Có thể coi đây là một mẫu mực về cách lập luận đối thoại phản đề “thấu lý đạt tình”, rất mực chân thành, tình cảm và rất mực sắc sảo, trí tuệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, đi trước thời đại khi chính mình là người thể hiện văn hóa biết lắng nghe người khác, đặc biệt hơn nữa là lắng nghe tiếng lòng con trẻ. Đồng chí Lê Duẩn nhiều lần nhắc nhở cán bộ học tập Bác Hồ thì trước hết là học tình yêu thương con người ở Bác từ những việc cụ thể. Ví như một lần đồng chí trực tiếp chứng kiến một đêm mưa rét, nghe thấy tiếng rao bán bánh của một đứa trẻ, đang nằm Người bật dậy, thế rồi suốt đêm trằn trọc thao thức, chắc là Người thương lắm những số phận còn đang phải chịu nhiều vất vả khổ đau...

Câu chuyện “Chiếc vòng bạc” thì ai cũng biết. Hồi ở Pác Bó, ông Ké (Bác Hồ) được nghe một cháu bé ao ước có một cái vòng bạc. Một năm sau ông Ké trở về và đưa cái vòng bạc... Ai cũng có thể hình dung ra sự sung sướng vô bờ của cháu bé ấy cùng sự cảm phục kính trọng vô ngần của dân bản về một hành động tuy nhỏ mà ý nghĩa lớn lao của ông Ké. Bác Hồ của chúng ta là thế. Bác đã chứng minh chân lý: phải là một tâm hồn giàu yêu thương, giàu lòng trắc trắc ẩn, khoan dung và luôn tôn trọng con người mới có thể biết lắng nghe những số phận, những tâm trạng… 

Biết lắng nghe là một hành vi văn hóa cao thượng vì thể hiện tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa người với người. Thế giới khâm phục ông Xukhômlinxli, nhà giáo dục nổi tiếng nước Nga cho rằng văn hóa là năng lực biết nhìn và nhìn thấy người bên cạnh. Thế giới kính trọng nhà bác học lỗi lạc Likhachốp, cũng người Nga khi khẳng định văn hóa là biết lắng nghe người khác. Cả thế giới nghiêng mình trước một Hồ Chí Minh vĩ đại, vì trên cả sự lắng nghe trẻ em nói là sự thực hành điều trẻ em muốn, mà hình ảnh chiếc vòng bạc đã dẫn ở trên là những ví dụ cụ thể nhất.

Nhưng đó là cả một năng lực văn hóa bởi về bản chất, đấy là một quá trình tiếp nhận, do vậy phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị…để phân tích, sàng lọc, loại bỏ. Ngày nay thế giới coi một biểu hiện của khoan dung văn hóa là biết lắng nghe nhau!

Cố nhà thơ nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi kể, trong không khí bừng sôi thắng lợi của Đại hội Tân Trào tháng 8-1945 ông đã hát rất say sưa để “cố gắng nhằm truyền cảm mạnh nhất đến toàn thể các đại biểu. Tôi hát to: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến! Tiến lên, tiến lên, theo cờ Việt Minh!”. Tôi hoàn toàn không biết rằng Hồ Chủ tịch đang chăm chú lắng nghe tiếng hát của tôi. Khi vừa hát xong, tôi bỗng nghe rõ tiếng Hồ Chủ tịch: “Bây giờ mà chú còn hát gươm đâu, gươm đâu thì thật không hợp với tình hình! Chú nên hát gươm đây, gươm đây!” (5). Ví dụ này cho thấy phải có một nhãn quan chính trị cực kỳ sắc bén mới có một phát hiện vỏ âm thanh của ngôn từ, dù nhỏ nhưng ý nghĩa biểu hiện lại rất lớn.

T.N
------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 6, tr. 356
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr. 304
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 11, tr. 532. 
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr. 347
(5) Nhiều tác giả: Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, H, 2010, Tập 1, tr. 41. 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo