Bài thơ Cảnh Chiều Hôm thể hiện những triết lý nhân sinh sâu sắc

Thứ ba - 04/09/2018 12:22
Đọc bài thơ “Cảnh chiều hôm” (Vãn cảnh), trong tập “Nhật kí trong tù" của Bác Hồ, chúng ta thấy tâm hồn Người vừa hướng ngoại vừa hướng nội, thầm kín phản ánh quy luật của tạo hoá, của đời hoa, đời người, qua cảnh vật, qua chính bản thân mình. Từ đó Người lặng lẽ suy ra những triết lý nhân sinh sâu sắc, nhằm phản kháng thực tại đen tối, vô nhân đạo của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch và nêu lên khát vọng tự do. 
 
tải xuống
Nguồn internet
 
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ này là ở trong nhà tù. Giữa một cảnh chiều tà, sâu trong ngục tối, Người vẫn lắng nghe cảm nhận những biến thái của thiên nhiên, của lòng người xung quanh. Có thể khi đó, Người nhìn qua song sắt, thấy hoa hồng nở và hoa hồng tàn, một mùi hoa hồng thơm phảng phất đến với Người thực. Cũng có thể là không có, bởi vì Người cũng đã một lần viết: “Trong tù không rượu cũng không hoa”, giữa những bức tường bê tông, cửa sắt, san sát  lưỡi lê, họng súng làm gì có hoa hồng. Vậy hoa hồng ở đây có thể là trong trí tưởng tượng. Trong trí tưởng tượng ấy, Người cảm nhận thấy sự “nở”, sự “tàn”, mùi hương hoa thơm của hoa hồng và khi cảm hứng đến, Người viết:
                                    “Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ”
                                      (Hoa hồng nở hoa hồng lại tàn)
Câu thơ mở đầu (câu khai) nêu lên quy luật tạo hoá của đời hoa. Hoa nở rồi hoa tàn như là sự thực hiển nhiên, chẳng có gì đáng nói. Nhưng thơ là tiếng nói, tình cảm, ý tại ngôn ngoại, khiến chúng ta liên tưởng đến đời người với quy luật tạo hoá “sinh - lão - bệnh - tử” vốn rất tự nhiên, nghiệt ngã nằm ngoài ý thức chủ quan của con người. Vì thế giọng thơ của Người cũng rất tự nhiên, hồn nhiên, thốt ra từ trái tim nhân hậu tràn đầy tình yêu thương. Người thương vòng đời của hoa, lúc “hoa khai” (hoa nở) và lúc “hoa hựu tạ” (hoa lại tàn) cũng như thương vòng đời của người với sự “sinh”, sự “tử” (sống, chết). Cho nên sự “nở”, sự “tàn” của hoa, cũng như sự “sống”, sự “chết”của con người không thể là bình thường mà rất đỗi thiêng liêng. Phải chăng, đó là một triết lý nhân sinh sâu sắc mang ý nghĩa nhân đạo được Người lặng lẽ suy ra từ hiện tượng tự nhiên và từ cuộc sống con người.
          Thế nhưng:                                  
                                  “Hoa khai, hoa tạ lưỡng vô tình”
                                      (Hoa nở hoa tàn đều vô tình).
Câu thơ thứ hai (câu thừa), Người viết như cố ý nhấn mạnh và tăng cường ấn tượngvề sự khai”(nở), sự “tạ”(tàn) của hoa. Lưỡng vô tình như là hệ quả của sự “khai - tạ” (nở - tàn) của đời hoa. Nhiều người đọc đã nhầm khi xác định đối tượng vô tình là con người. Người đọc bình thường thì hiểu kẻ vô tình là quan quân cai ngục, sống coi trọng vật chất và vô liêm sỉ nên chúng là kẻ vô tình. Cách hiểu này là cách suy diễn, áp đặt, suy từ ngoài vào trong thơ, nên chẳng mấy thuyết phục. Nhà thơ Xuân Diệu đương thời thì nói người vô tình là thiên hạ và tạo hoá. “Thiên hạ” là con người nói chung thì rộng quá, không đúng với cách suy nghĩ của Bác Hồ, không bao giờ Người nói gom như kiểu vơ đũa cả nắm. Nhất là vấn đề tình cảm cần phải tế nhị. Còn tạo hoá thì đúng, có lý, vì tạo hoá là sự việc tự nhiên vốn vô tình, ý này được phát triển từ ý câu đầu, tác giả như đã nói về quy luật tạo hoá về sự “nở - tàn” của đời hoa. Sang câu này, Người muốn khẳng định về sự vô tình của tạo hoá, về sự “nở - tàn” của đời hoa, không có chủ định và vô thuỷ vô chung.

Giáo sư Trần Đình Sử trong một bài viết có tiêu đề “ Chủ ngữ hàm ẩn trong bài thở cảnh chiều hôm” ( báo VN số 25-94) đã viết: “ Khó hiểu nhất là câu thứ hai, là câu vô chủ,  đúng hơn là câu chủ ngữ hàm ẩn”. Theo tôi câu thứ hai này không phải là câu vô chủ, hay chủ ngữ hàm ẩn. Nó là câu có chủ ngữ mà chủ ngữ ở đây là “ Hoa” với vị ngữ là “nở” và “tàn” và quan hệ của nó là “ lưỡng vô tình”. Hai lần vô tình. Hơn nữa câu 1 và câu 2 trong nguyên bản, tác giả đã bốn lần nhắc tới từ hoa, như để nhấn mạnh đối tượng trữ tình trong thơ, sao bảo là vô chủ hay chủ ngữ ẩn được. Đối tượng cần xác định của vô tình thì dứt khoát không phải là con người, là “ quan quân” cai ngục hoặc “ thiên hạ” như cách hiểu đã nêu. Nó càng không đúng với cách đọc và cách lập luận của ông Trần Đình Sử bảo người vô tình chính là “ta, người tù”. Ông cố ý cho rằng Bác là bậc hữu tình, ở trong ngục cũng là người vô tình mà thôi. Nếu có đối tượng cần xác định, ở đây không phải là con người mà phải là sự việc. Nó sẽ là cái gì? Nó phải là tạo hóa.

Tại sao lại có cách hiểu như trên. Vì tất cả đều tưởng đó là câu vô chủ nên cứ việc đi tìm chủ ngữ ẩn đưa vào, để suy luận ra tư tưởng tình cảm của chủ thể trữ tình (tác giả). Cũng xin nói thêm trong các bài thơ Đường luật câu vô chủ thường hay xuất hiện những câu đầu và xuất hiện ít ở câu thứ hai có tính hướng nội hoặc là sau câu đầu nói về địa điểm, nơi chốn hoặc đơn thuần chỉ là thời gian.

Như thế, trong bài thơ này chúng ta xác định cái “ lưỡng vô tình” ( hai lần vô tình) là do tạo hóa sinh ra. Vô tình như tạo hóa nên không thấy cái đẹp của hoa khi hoa nở, không thấy thương xót hoa khi hoa tàn. Vô tình với đời hoa cũng như vô tình với đời người là vô tri, vô cảm. Còn con người có lương tri, có tư tưởng tình cảm phải là con người hữu tình; con người mà vô tình với sự “ nở- tàn” của hoa thì thật là đáng trách, vô tình với sự “sống”, sự “chết” của con người thật đáng lên án và nguyền rủa. Đây cũng là triết lý nhân sinh sâu sắc mang ý nghĩa nhân văn mà Bác ngầm ý chỉ ra cho chúng ta.

Vì lẽ đó hương hoa trở thành nhân vật trữ tình mới đồng cảm với người tù đang bị giam giữ sâu trong ngục tối, mới bay thẳng vào trong đó như không có một sự cản trở gì, hay một sự ngăn cản của bất kỳ thế lực đen tối nào làm cho hương hoa ngừng bước.
                            “ Hương hoa thấu nhập lung môn lý”
                                (Hương thơm bay vào thấu trong ngục)
Câu thơ thứ ba( câu chuyển) nói “ Hoa hương” ( Hương hoa) là phần tinh túy của đời hoa. Khi hoa nở đã tiếp thu tinh chất của cây, của nước, của đất, của khí, của ánh sáng mặt trời làm nên hương thơm. Hương hoa ở đây là một phần còn lại của hoa tàn, tách khỏi bản thể tỏa ra, bay vào không gian, hướng tới ngục tù, nơi có vị “ khách tiên”, làm cho người tù trở lên tin tưởng, yêu đời hơn, lạc quan hơn, vượt lên thử thách trước mắt hướng về cách mạng, hướng về tương lai.

Phần tinh túy của hoa là hương hoa, phần tinh túy của con người là tinh anh. Thi hào Nguyễn Du đã nói: “ Thác là thể phách hồn là tinh anh” . Phần tinh anh của con người đã làm nên tinh thần, lương tâm, khí phách của những người danh nhân, của những anh hùng, đã làm nên những tư tưởng tiến bộ của các thời đại hướng đến với người tù – Hồ Chí Minh, mà không có một thế lực hắc ám, tàn bạo nào ngăn cản được. Đó là tư tưởng tiến bộ là chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn hướng tới con người hữu tình cách mạng Hồ Chí Minh dù con người đó vẫn còn trong hoàn cảnh lao lung.
                                Hướng tại lung nhân tố bất bình.
                                 ( Tới kể với người trong ngục nỗi bất bình)
Câu thơ thứ tư( câu hợp) như một lời kết luận đanh thép. Con người đã mang tư tưởng tiến bộ của thời đại thì không thể không lên án trước sự bất công, ngang trái của chính quyền Tưởng Giới Thạch gây nên. Đầy đọa một con người lương thiện đã là một tội ác, đầy đọa một đại biểu của cả một dân tộc đang cùng nhân loại chống phát xít, chống chiến tranh là một tội ác không thể tha thứ được. Đây cũng là một triết lý nhân sinh sâu sắc về lẽ phải công lý. Chính điều này đã làm tăng giá trị tư tưởng của bài thơ. Cho nên có ý kiến cho rằng ở bài thơ này, Hồ Chí Minh đã mượn lời hoa để nói lên sự bất bình của mình về chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch là rất đúng.

Như vậy, bài thơ “ Cảnh chiều hôm” của Bác Hồ, đã góp thêm giá trị tố cáo nhà tù Tưởng Giới Thạch dã man, vô nhân đạo, nói lên khát vọng tự do của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Bằng bút pháp trữ tình, tài hoa, kín đáo Người còn nêu lên những triết lý nhân sinh sâu sắc, giúp cho ta hiểu thêm về thế giới tự nhiên, về con người, xã hội, hướng chúng ta phấn đấu làm con người hữu tình, có trách nhiệm trước thế giới con người và vạn vật.
 
 CAO THỊNH

Tài liệu: Hồ Chí Minh, Cảnh chiều hôm ( Vãn cảnh), sgk Văn 12, tập một, Nxb Giáo dục, HN, 2000.
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo